Thuật ngữ chạy bộ là bộ từ cộng đồng runner dùng hằng ngày: cự ly (5K, 10K, HM, FM), chỉ số trên đồng hồ (pace, cadence, nhịp tim), mốc thành tích (sub 2, sub 3, PR) và những chữ viết tắt trên bảng kết quả giải (BIB, COT, DNF, gender rank). Bài này giải nghĩa bằng tiếng Việt, kèm 7 bảng tra cứu. Bảng đáng xem nhất là bảng mốc sub, vì nó cho luôn pace bạn phải giữ ở từng cự ly chứ không chỉ nói sub là gì.
Thuật ngữ về người chạy và mốc thành tích
Runner
Runner là người chạy bộ. Không cần chạy nhanh, không cần từng dự giải nào, cứ đang tập chạy là bạn gọi mình là runner được. Người mới hay băn khoăn viết "runner" hay "runer", thì đúng chính tả là runner, hai chữ n.
Sub (sub 2, sub 3, sub 5)
Sub lấy từ tiếng Anh, nghĩa là "dưới". Sub 2, sub 3, sub 5 đều chỉ một mốc thời gian về đích: hoàn thành cự ly dưới ngần ấy tiếng.
Chỗ hay nhầm là mỗi con số lại gắn với một cự ly khác nhau theo thói quen của cộng đồng. Sub 2 gần như luôn chỉ bán marathon 21,0975 km. Sub 3, sub 4, sub 5 thì chỉ marathon 42,195 km. Còn 5 km với 10 km, người ta nói theo phút, kiểu sub 30 hay sub 60.
Nhưng biết sub 3 là gì vẫn chưa đủ để tập. Câu hỏi kế tiếp luôn là: vậy bạn phải giữ pace bao nhiêu mỗi km? Bảng dưới đây là phép chia thuần, lấy thời gian mục tiêu chia cho cự ly, ra pace trung bình chậm nhất mà bạn vẫn kịp về đích.
| Mốc sub | Cự ly | Pace chậm nhất còn kịp |
|---|---|---|
| Sub 20 | 5 km | 4:00/km |
| Sub 25 | 5 km | 5:00/km |
| Sub 30 | 5 km | 6:00/km |
| Sub 40 | 10 km | 4:00/km |
| Sub 45 | 10 km | 4:30/km |
| Sub 50 | 10 km | 5:00/km |
| Sub 60 (sub 1 giờ) | 10 km | 6:00/km |
| Sub 1:30 | 21,0975 km | 4:15/km |
| Sub 1:45 | 21,0975 km | 4:58/km |
| Sub 2 | 21,0975 km | 5:41/km |
| Sub 2:30 | 21,0975 km | 7:06/km |
| Sub 3 | 42,195 km | 4:15/km |
| Sub 3:30 | 42,195 km | 4:58/km |
| Sub 4 | 42,195 km | 5:41/km |
| Sub 4:30 | 42,195 km | 6:23/km |
| Sub 5 | 42,195 km | 7:06/km |
| Sub 6 | 42,195 km | 8:31/km |
Hai dòng cùng một con số pace không phải lỗi gõ. Sub 2 bán marathon và sub 4 marathon đều cần 5:41/km, chỉ khác là ở marathon bạn phải giữ pace đó gấp đôi thời gian. Muốn tự tính cho mục tiêu khác, bạn dùng công cụ tính pace.
Có một con số sai lan khá rộng mà tôi muốn nói rõ. Nhiều bài trên mạng ghi muốn sub 2 bán marathon thì giữ pace 5:30 tới 5:41/km, và bản cũ của chính bài này cũng từng ghi vậy. Chạy đều 5:30/km thì bạn về trong 1 giờ 56 phút 2 giây, tức nhanh hơn mốc sub 2 gần 4 phút. Số đúng cho mốc sub 2 là 5:41/km, còn 5:30/km là pace của mốc 1 giờ 57 phút.
Sub 2 ở cự ly marathon lại là chuyện khác hẳn. 42,195 km dưới 2 giờ nghĩa là pace 2:50/km, mức mà cả thế giới mới có một người làm được trong giải chính thức. Kỷ lục marathon nam hiện nay là 1 giờ 59 phút 30 giây, do Sabastian Sawe lập ở London ngày 26/04/2026 theo công bố của World Athletics. Bạn xem thêm ở bài người chạy nhanh nhất thế giới.

Mỗi mốc sub là một con pace cụ thể phải giữ đều từ km đầu tới km cuối
Pacer
Pacer là người dẫn tốc. Ở giải, họ cầm bóng bay hoặc cắm biển ghi "Sub 2", "Sub 4" rồi chạy đúng pace đó từ đầu tới cuối, bạn chạy theo là khỏi phải nhìn đồng hồ. Trên đồng hồ chạy bộ cũng có tính năng tên pacer, báo bạn đang nhanh hay chậm hơn mục tiêu bao nhiêu giây.
PR và PB
PR viết tắt của personal record, PB là personal best. Hai chữ này cùng một nghĩa: thành tích tốt nhất của chính bạn trên một cự ly. PR không so với ai khác, nên lần chạy 5 km đầu tiên trong đời của bạn cũng đã là một PR.
Elite
Elite là nhóm chạy nhanh nhất giải. Mỗi ban tổ chức tự đặt chuẩn elite rồi ghi trong thể lệ, thường kèm quyền lợi riêng như xuất phát ở hàng đầu, miễn phí vé, có giải còn hỗ trợ chi phí đi lại.
Ở Việt Nam cộng đồng còn tách thêm hai nhánh. Elite hệ tuyển là vận động viên chuyên nghiệp của tỉnh, của ngành hoặc đội tuyển quốc gia. Elite phong trào là người đi làm bình thường nhưng hay lên bục ở các giải trong nước. Hai nhóm này nhiều giải xếp giải thưởng riêng, nên bạn đọc thể lệ sẽ thấy hai bảng kết quả khác nhau.
Finisher và bandit
Finisher là người về đích hợp lệ, qua đủ các điểm kiểm tra và còn trong giờ đóng cổng. Bandit là người chạy chui, không đăng ký và không có số báo danh, thường bị ban tổ chức mời ra khỏi đường chạy.
Bảng tra nhanh những chữ viết tắt runner gặp nhiều nhất
Phần lớn thắc mắc về thuật ngữ chạy bộ rơi vào mấy chữ viết tắt. Bạn lưu bảng này lại, lúc cần thì bấm Ctrl+F trên máy tính hoặc dùng chức năng tìm trong trang trên điện thoại, gõ đúng chữ cần tra.
| Viết tắt | Viết đầy đủ | Nghĩa |
|---|---|---|
| 5K | 5 kilometers | Cự ly 5 km |
| 10K | 10 kilometers | Cự ly 10 km |
| HM | Half marathon | Bán marathon, 21,0975 km |
| FM | Full marathon | Marathon đầy đủ, 42,195 km |
| K | Kilometer | Km. "21K" là 21 km |
| UM | Ultra marathon | Cự ly dài hơn 42,195 km |
| PR | Personal record | Thành tích tốt nhất của bạn ở một cự ly |
| PB | Personal best | Cùng nghĩa với PR |
| SB | Season best | Thành tích tốt nhất trong mùa giải đó |
| WR | World record | Kỷ lục thế giới |
| NR | National record | Kỷ lục quốc gia |
| CR | Course record | Kỷ lục trên đường chạy của giải đó |
| BIB | Số báo danh | Tấm số đeo trước áo, thường gắn chip đo thời gian |
| GT | Gun time | Thời gian tính từ lúc có hiệu lệnh xuất phát |
| CT | Chip time | Thời gian tính từ lúc bạn qua vạch xuất phát |
| COT | Cut-off time | Giờ đóng cổng, quá giờ là không được tính hoàn thành |
| DNS | Did not start | Đăng ký rồi nhưng không xuất phát |
| DNF | Did not finish | Xuất phát nhưng không về đích |
| DQ, DSQ | Disqualified | Bị huỷ kết quả vì vi phạm thể lệ |
| OA | Overall | Thứ hạng chung của toàn bộ cự ly |
| AG | Age group | Nhóm tuổi. "AG rank" là hạng trong nhóm tuổi của bạn |
| CP | Checkpoint | Điểm kiểm tra trên đường chạy |
| AS | Aid station | Trạm tiếp nước, đồ ăn và y tế |
| WS | Wave start | Xuất phát chia thành nhiều đợt |
| D+ | Độ cao tích luỹ | Tổng số mét leo lên của đường chạy |
| EG | Elevation gain | Cùng nghĩa với D+ |
| GAP | Grade adjusted pace | Pace quy đổi về đường phẳng |
| HR | Heart rate | Nhịp tim |
| BPM | Beats per minute | Nhịp mỗi phút, đơn vị của nhịp tim |
| HRmax | Maximum heart rate | Nhịp tim tối đa của bạn |
| HRV | Heart rate variability | Biến thiên nhịp tim |
| SPM | Steps per minute | Số bước mỗi phút, đơn vị của cadence |
| VO2max | Maximal oxygen uptake | Lượng oxy tối đa cơ thể dùng được trong một phút |
| LT | Lactate threshold | Ngưỡng lactate |
| MAF | Maximum aerobic function | Ngưỡng nhịp tim hiếu khí tối đa, ước lượng bằng 180 trừ số tuổi |
| RPE | Rate of perceived exertion | Mức gắng sức tự cảm nhận, thang 1 tới 10 |
| LSD | Long slow distance | Buổi chạy dài và chậm |
| DOMS | Delayed onset muscle soreness | Đau mỏi cơ xuất hiện một hai ngày sau buổi tập |
| ITBS | Iliotibial band syndrome | Hội chứng dải chậu chày, đau mé ngoài gối |
| PF | Plantar fasciitis | Viêm cân gan chân |
| RICE | Rest, ice, compression, elevation | Nghỉ, chườm lạnh, băng ép, kê cao chân |
| FKT | Fastest known time | Thành tích nhanh nhất từng ghi nhận trên một tuyến đường |
| ITRA | International Trail Running Association | Hiệp hội chạy trail quốc tế, chấm điểm độ khó giải trail |
| UTMB | Ultra-Trail du Mont-Blanc | Giải trail quanh dãy Mont Blanc, lớn nhất thế giới |
| DIS | Distance | Quãng đường. Chữ này hay hiện trên màn hình máy chạy bộ |
Thuật ngữ về tốc độ và các chỉ số trên đồng hồ
Pace
Pace là số phút bạn chạy hết 1 km. Pace 5:30/km nghĩa là mỗi km mất 5 phút 30 giây. Khác với tốc độ xe, pace càng nhỏ thì bạn càng nhanh.
Cadence
Cadence là số bước chân trong một phút, đồng hồ ghi là SPM. Phần lớn runner phong trào chạy quanh 150 tới 165 bước. Kéo được lên trên 170 bước thì bước chân ngắn lại, chân tiếp đất gần người hơn, và lực va đập dồn lên gối cũng giảm đi.
Nhịp tim, vùng nhịp tim và HRV
Nhịp tim tính bằng nhịp mỗi phút, viết là BPM. Người ta chia dải nhịp tim thành 5 vùng, gọi là zone 1 tới zone 5, zone 1 nhẹ nhất và zone 5 là lúc bạn gắng hết sức. Cách chạy bộ theo nhịp tim dựa hết vào mấy vùng này.
HRV là biến thiên nhịp tim, tính bằng mili giây, đo lúc ngủ hoặc lúc mới dậy. Số này so với mức thường ngày của chính bạn chứ không so với người khác. Thấp hơn hẳn mấy ngày liền thường là dấu hiệu nên tập nhẹ lại.
MAF
MAF là ngưỡng hiếu khí tối đa, nói gọn là mức nhịp tim mà bạn chạy được lâu mà vẫn thở đều. Công thức ước lượng cơ bản lấy 180 trừ số tuổi. Đây là cách ước lượng dùng tạm khi bạn chưa đo nhịp tim tối đa thật của mình.
VO2max và ngưỡng lactate
VO2max là lượng oxy tối đa cơ thể bạn lấy và dùng được, tính theo ml trên mỗi kg cân nặng trong một phút. Số càng cao thì tim phổi càng khoẻ.
Ngưỡng lactate là mức gắng sức mà lactate trong máu bắt đầu tích lại nhanh hơn mức cơ thể dọn đi được. Chạy trên ngưỡng này thì bạn chỉ trụ được ít phút. Lactate ở đây là sản phẩm đi kèm của quá trình tạo năng lượng, không phải thứ bạn phải tìm cách loại bỏ.

VO2max đo trong phòng mới chính xác, đồng hồ chỉ ước lượng từ nhịp tim và pace
GAP, split và sải chân
GAP là pace quy đổi về đường phẳng. Bạn leo dốc với pace 7:00/km, ứng dụng có thể hiện GAP 5:30/km, nghĩa là công bạn bỏ ra tương đương chạy 5:30/km trên đường bằng.
Split là thời gian từng km hoặc từng chặng. Negative split là kiểu chạy nửa sau nhanh hơn nửa đầu. Sải chân là độ dài mỗi bước. Nó tự dài ra khi bạn khoẻ hơn, còn cố kéo dài sớm thì chỉ làm gót đập xuống mạnh hơn.
| Chỉ số | Đơn vị | Đọc thế nào |
|---|---|---|
| Pace | phút:giây/km | Số càng nhỏ càng nhanh |
| Cadence | bước/phút | Trên 170 là mức nhiều runner nên hướng tới |
| Nhịp tim | nhịp/phút | Buổi chạy nhẹ thường nằm 65 tới 78% nhịp tim tối đa của chính bạn |
| Vùng nhịp tim | zone 1 tới 5 | Zone 1 và 2 là chạy nhẹ, zone 4 và 5 là bài nặng |
| HRV | mili giây | So với mức thường ngày của chính bạn |
| VO2max | ml/kg/phút | Số cao hơn là tim phổi nhận oxy tốt hơn |
| Ngưỡng lactate | pace hoặc nhịp tim | Mức gắng sức bạn giữ được khoảng một tiếng |
| GAP | phút:giây/km | Pace của bạn nếu đường chạy phẳng hết |
| Split | phút:giây | Thời gian từng km, xem mình vỡ pace ở đâu |
| Sải chân | mét | Dài ra tự nhiên khi khoẻ hơn, đừng cố kéo |
Mấy chỉ số này muốn đọc được thì cần đồng hồ có GPS và đo nhịp tim ở tay. Bên HappyRun hiện bán Garmin Forerunner 570 cho người cần đủ bộ chỉ số, và Forerunner 55 cho người chỉ cần pace với nhịp tim. Bài chọn đồng hồ chạy bộ so từng dòng chi tiết hơn.
Thuật ngữ về địa hình và độ cao
Chạy road là chạy trên đường nhựa, đường phố, loại phổ biến nhất ở các giải trong nước. Chạy trail là chạy đường mòn, băng rừng, lên xuống núi. Chạy track là chạy trong sân điền kinh, một vòng đúng 400 m. Treadmill là máy chạy bộ, màn hình máy hay viết DIS cho quãng đường, TIME cho thời gian và CAL cho calo.
Nhóm chữ về độ cao làm nhiều người lẫn nhất, nhất là lúc nhìn bảng tổng kết trên ứng dụng sau buổi chạy.
| Chữ hay gặp | Nghĩa | Chỗ hay nhầm |
|---|---|---|
| Elev gain, D+ | Tổng số mét bạn leo lên trong buổi chạy | Chỉ cộng đoạn lên dốc, không trừ đoạn xuống |
| Elev loss, D- | Tổng số mét đổ dốc | Đổ dốc dài làm đau mặt trước đùi, không nhẹ như tưởng |
| Elevation, elev | Độ cao so với mực nước biển | Nói bạn đang ở cao bao nhiêu, không nói đường khó hay dễ |
| Max elevation | Điểm cao nhất của đường chạy | Thể lệ giải trail hay ghi kèm, khác hẳn elev gain |
| Grade | Độ dốc tính theo phần trăm | Dốc 10% là lên 10 m sau mỗi 100 m đường |
Dân leo núi và dân trekking cũng dùng chữ gain với đúng nghĩa đó. Một đường 20 km mà gain 1.200 m sẽ mệt hơn nhiều so với 20 km đường bằng, nên đọc gain trước khi đăng ký giải trail quan trọng chẳng kém đọc cự ly. Nhóm từ riêng của trail còn khá nhiều, bạn xem thêm ở bài thuật ngữ chạy địa hình.
Thuật ngữ trong giải chạy và cách đọc bảng kết quả
Race là cuộc thi chạy có ban tổ chức, có cự ly cố định, giờ xuất phát, thể lệ và kết quả được ghi nhận chính thức. "Đi race" là cách cộng đồng nói về việc đi dự giải, phân biệt với mấy buổi chạy tập hằng ngày.
Trước giờ bắn súng bạn sẽ nghe mấy chữ này. Race kit là túi vật phẩm ban tổ chức phát, gồm số báo danh, áo và chip. Race village là khu trung tâm sự kiện, chỗ nhận kit và gửi đồ. Bag drop là nơi gửi balo. Corral là ô xếp hàng theo pace, ai nhanh đứng trước. Wave start là xuất phát theo đợt cho đỡ chen. Waiver là bản cam kết tự chịu trách nhiệm sức khoẻ, bạn ký lúc đăng ký.
Trên đường chạy thì checkpoint là điểm kiểm tra, bỏ qua một điểm là kết quả không hợp lệ. Aid station là trạm tiếp nước và đồ ăn. Cut-off time, viết tắt COT, là giờ đóng cổng, có giải đặt COT cho cả cự ly, có giải đặt thêm COT ở từng checkpoint.
Về đích rồi mới tới phần nhiều người đọc mà không hiểu: bảng kết quả.
| Cột | Nghĩa | Chỗ hay nhầm |
|---|---|---|
| BIB | Số báo danh của bạn | Tra kết quả bằng số này chứ không bằng tên |
| Gun time | Tính từ lúc có hiệu lệnh xuất phát | Nhiều giải xét giải thưởng theo cột này |
| Chip time | Tính từ lúc bạn qua vạch xuất phát | Đây là thành tích thật của bạn, thường ngắn hơn gun time |
| Overall rank | Hạng chung cả cự ly | Nam nữ mọi lứa tuổi xếp lẫn vào một bảng |
| Gender rank | Hạng trong giới của bạn | Hạng 200 chung có thể là hạng 20 của nữ |
| AG rank | Hạng trong nhóm tuổi của bạn | Nhóm tuổi thường chia theo 5 hoặc 10 năm |
| Pace | Pace trung bình cả cự ly | Tính từ chip time, không phải từ gun time |
| Split | Thời gian từng chặng | Xem mình tụt pace từ km nào |
| DNF | Không về đích | Quá giờ đóng cổng cũng bị ghi DNF |
| DNS | Không xuất phát | Đăng ký rồi mà nghỉ vẫn hiện trong danh sách |
| DQ | Bị huỷ kết quả | Cắt cua, nhờ người chạy hộ, bỏ checkpoint |
Nếu bạn xuất phát ở đợt sau thì gun time dài hơn chip time đúng bằng khoảng thời gian chờ tới lượt mình. Vì thế hai người có chip time y nhau vẫn có thể khác hạng, và đó là lý do nhiều người thấy kết quả của mình "lạ" so với đồng hồ.
Thuật ngữ trong giáo án tập luyện
Mở một giáo án chạy bộ ra, bạn sẽ thấy mỗi buổi được gọi bằng một cái tên riêng. Tên đó quy định bạn chạy nhanh cỡ nào và nhằm mục đích gì, nên đọc sai tên là tập sai buổi.
Khởi động là mấy phút chạy chậm cùng vài động tác cho người nóng lên trước buổi tập. Thả lỏng, tiếng Anh là cool down, là chạy chậm dần rồi đi bộ cho nhịp tim hạ về bình thường.
Easy run là buổi chạy nhẹ, nhẹ tới mức bạn vừa chạy vừa nói chuyện được cả câu dài. Base run cũng là chạy nhẹ nhưng dùng để xây nền tảng sức bền trong giai đoạn đầu giáo án. Recovery run là buổi chạy rất chậm ngay sau một buổi nặng, mục đích cho máu chạy qua cơ để người hồi lại, chứ không nhằm nâng tốc độ hay sức bền.
Long run là buổi chạy dài nhất tuần, cũng gọi là LSD. Tăng dần theo chu kỳ 4 tới 6 tuần, có tuần chùng rồi mới nâng tiếp, chứ không nâng đều mỗi tuần.
Tempo là buổi chạy giữ một pace hơi nặng liên tục, thường quanh ngưỡng lactate, để cải thiện ngưỡng đó. Bài tempo thường kéo 20 tới 40 phút.
Interval, tiếng Việt hay gọi là chạy biến tốc, là chuỗi đoạn nhanh xen đoạn nghỉ nhẹ, nhắm vào khả năng hấp thụ oxy tối đa. Repetition là các đoạn ngắn hơn và nhanh hơn, nhắm vào tốc độ và kỹ thuật. Fartlek là biến tốc kiểu tự do, nhanh chậm theo cảm hứng chứ không bấm đồng hồ.
Progressive run là buổi chạy tăng pace dần từ đầu tới cuối. Hill repeats là chạy lên dốc rồi quay xuống, lặp nhiều lần. Strides là mấy đoạn 20 tới 30 giây chạy nhanh nhẹ nhàng cuối buổi, cho chân nhớ cảm giác guồng nhanh. Drill là các động tác kỹ thuật ngắn như nhấc cao đùi, gót chạm mông, làm cho tư thế chạy gọn lại.
Back to back là hai buổi nặng đặt sát nhau, thường cách 12 tới 24 tiếng, hay dùng khi tập cho cự ly siêu dài để cơ thể quen chạy trên đôi chân đã mỏi. Cross training là tập bổ trợ bằng môn khác như đạp xe hay bơi. Taper là giai đoạn giảm khối lượng tập trước ngày đua để chân nhẹ lại trước khi vào giải.
Yasso 800 là bài 800 m lặp lại dùng để ước lượng thành tích marathon: chạy đều các tổ 800 m ở mức 4 phút thì dự kiến về marathon quanh mốc 4 tiếng. Đây là cách ước lượng dân gian trong giới chạy, không phải phép tính chính xác.

Long run là buổi dài nhất tuần, nâng theo chu kỳ vài tuần chứ không nâng đều từng tuần
Luật 10%
Đây là thuật ngữ bạn sẽ gặp rất nhiều, nên tôi để riêng một mục. "Ten percent rule" hay luật 10% là lời khuyên truyền miệng rằng mỗi tuần chỉ nên tăng tối đa 10% số km để tránh chấn thương.
Nó nghe hợp lý, nhưng khi đem ra thử thật thì không đứng được. Một nghiên cứu đối chứng ngẫu nhiên trên 532 người mới chạy ở Hà Lan chia hai nhóm, một nhóm tập theo giáo án tăng tải từ từ 13 tuần và một nhóm theo giáo án 8 tuần thông thường. Tỷ lệ chấn thương ra 20,8% so với 20,3%, tức gần như y nhau.
Giáo án của tôi không dùng con số 10% này. Tôi cho tăng tải theo chu kỳ vài tuần, kèm tuần chùng. Cách tôi nhìn là các bộ phận thích nghi với tốc độ rất khác nhau: tim phổi khoẻ lên trong vài tuần, cơ cần vài tháng, còn gân và xương thì tính bằng nhiều tháng. Đó là lý do một con số chung cho mọi người không giải quyết được gì.
Thuật ngữ về giày và trang bị
Drop là độ chênh giữa đế gót và đế mũi, hiểu đơn giản là gót cao hơn mũi bao nhiêu mi-li-mét. Stack height là tổng độ dày đế dưới chân. Cushioning là mức đệm của đế, người nặng hoặc chạy nhiều km thường cần đệm dày hơn.
Pronation là cách bàn chân xoay vào trong khi tiếp đất. Neutral là xoay vừa phải, overpronation là xoay vào quá nhiều, underpronation hay supination là đổ ra mé ngoài. Last giày là khuôn phôi dùng để làm giày, cùng cỡ số mà khác last thì vẫn chật rộng khác nhau.
Giày bản wide là bản rộng cho người chân bè. Đế carbon là tấm carbon nhúng trong đế giữa, giúp bước chạy nảy hơn, thường thấy ở giày đua. Breathability là độ thoáng khí của phần mũ giày.
Về cỡ số thì bạn tra ở bảng size giày, còn chọn mẫu theo cự ly và km mỗi tuần thì xem bài chọn giày chạy bộ.

Drop, stack height và last giày là ba chữ quyết định đôi giày có vừa chân bạn không
Nhóm đồ còn lại cũng có từ riêng. Vest nước là balo nhỏ đeo trước ngực để mang nước và đồ ăn khi chạy trail. Gel là túi gel năng lượng, chủ yếu là đường hấp thụ nhanh. Viên muối hay viên điện giải bù lại muối mất qua mồ hôi. Tất xỏ ngón tách riêng từng ngón cho đỡ cọ nhau. Bó bắp chân là ống bó quanh cẳng chân.
Ở HappyRun, mấy món này đang có gel năng lượng, viên muối điện giải, tất chạy bộ hai lớp và giày chạy trail.
Thuật ngữ về chấn thương và phục hồi
Phần này chỉ giải nghĩa từ ngữ để bạn đọc hiểu khi người khác nói, không thay cho chẩn đoán của bác sĩ.
Hit the wall, tiếng Việt gọi là đụng tường, là lúc cơ thể cạn glycogen ở những km cuối marathon, chân nặng trĩu và pace tụt hẳn. Bonk là cách nói khác của cùng hiện tượng đó.
Shin splints là đau dọc mặt trong xương cẳng chân, thường gặp khi tăng khối lượng nhanh. Hội chứng dải chậu chày là đau ở mé ngoài gối. Viêm cân gan chân là đau ở gan bàn chân, rõ nhất lúc vừa đặt chân xuống sàn buổi sáng.
DOMS là đau mỏi cơ xuất hiện chậm, thường rõ nhất một hai ngày sau buổi tập nặng. Blister là phồng rộp da. Chafing là trầy xước do quần áo cọ liên tục. Chuột rút là cơ co cứng đột ngột giữa lúc chạy. Tím móng chân hay gặp ở người đi giày chật khi chạy cự ly dài.
RICE là cụm bạn sẽ nghe nhiều trong cộng đồng, ghép từ nghỉ, chườm lạnh, băng ép và kê cao chân. Cách xử lý cho đúng ca của bạn thì nên hỏi bác sĩ hoặc người có chuyên môn, vì mỗi loại đau một kiểu.
Overtraining là tình trạng tập quá tải kéo dài. Người bị quá tải thường kể lại mấy dấu hiệu giống nhau: pace tụt, nhịp tim lúc nghỉ cao hơn thường, ngủ kém và không còn muốn ra đường chạy.
Chạy bộ tiếng Anh gọi là gì?
Nhiều người tìm bài này không phải để tra thuật ngữ chuyên môn, mà chỉ muốn biết gọi mấy thứ quen thuộc bằng tiếng Anh thế nào. Bảng dưới là phần hay cần nhất.
| Tiếng Việt | Tiếng Anh | Ghi chú |
|---|---|---|
| Chạy bộ | running | Nói về môn hoặc hoạt động nói chung |
| Chạy chậm thư giãn | jogging | Chậm hơn running, không đặt nặng thành tích |
| Người chạy bộ | runner | Hai chữ n, không phải "runer" |
| Người chạy chậm | jogger | Ít dùng trong cộng đồng chạy phong trào |
| Chạy bền | long-distance running | Có thể nói endurance running |
| Giải chạy | race | Cũng gọi running event |
| Người về đích | finisher | Phải hợp lệ mới được tính |
| Vạch đích | finish line | Vạch xuất phát là start line |
| Cự ly | distance | Màn hình máy chạy viết tắt là DIS |
| Buổi chạy dài | long run | Buổi dài nhất trong tuần |
| Khởi động | warm-up | Thả lỏng là cool-down |
| Chạy nước rút | sprint | Đoạn chạy hết sức, rất ngắn |
| Máy chạy bộ | treadmill | Chạy trong nhà |
| Vận động viên | athlete | Dùng cho cả dân phong trào |
| Nhóm chạy | running club | Viết tắt hay thấy là RC |
Bảng tra cứu thuật ngữ chạy bộ từ A đến Z
Đây là bảng gộp, gồm cả những từ đã nói ở trên và những từ chỉ thỉnh thoảng gặp. Bạn dùng chức năng tìm trong trang rồi gõ chữ cần tra là nhanh nhất.
| Thuật ngữ | Nghĩa |
|---|---|
| Achilles tendon | Gân Asin, nối bắp chân xuống gót chân |
| Achilles tendonitis | Viêm gân Asin |
| Aerobic | Hiếu khí. Mức gắng sức cơ thể còn kịp cấp đủ oxy |
| Aid station | Trạm tiếp nước, đồ ăn và y tế trên đường chạy |
| Anaerobic | Yếm khí. Mức gắng sức cao, cơ thể thiếu oxy |
| Back to back | Hai buổi nặng đặt sát nhau, cách 12 tới 24 tiếng |
| Bag drop | Khu gửi balo, đồ cá nhân ở giải |
| Bandit | Người chạy chui, không đăng ký và không có số báo danh |
| Base run | Buổi chạy nhẹ để xây nền tảng sức bền |
| BIB | Số báo danh đeo trước áo, thường gắn chip đo thời gian |
| Biến tốc | Cách gọi tiếng Việt của interval |
| Blister | Phồng rộp da, hay gặp ở gót và ngón chân |
| Bonk | Cạn năng lượng giữa đường, cùng nghĩa hit the wall |
| Bó bắp chân | Ống bó quanh cẳng chân, tiếng Anh là calf sleeve |
| BPM | Nhịp mỗi phút, đơn vị của nhịp tim |
| Breathability | Độ thoáng khí của mũ giày |
| Cadence | Số bước chân mỗi phút |
| Carb load | Nạp nhiều tinh bột mấy ngày trước giải dài |
| Chafing | Trầy xước da do quần áo cọ liên tục |
| Checkpoint | Điểm kiểm tra, bỏ qua là kết quả không hợp lệ |
| Chip time | Thời gian tính từ lúc bạn qua vạch xuất phát |
| Cool down | Thả lỏng, chạy chậm dần sau buổi tập |
| Corral | Ô xếp hàng xuất phát chia theo pace |
| COT | Giờ đóng cổng, quá giờ là không được tính hoàn thành |
| Course record | Kỷ lục trên đường chạy của giải đó |
| Cross training | Tập bổ trợ bằng môn khác như đạp xe, bơi |
| Cushioning | Mức đệm của đế giày |
| Cut-off time | Xem COT |
| D+ | Tổng số mét leo lên của đường chạy |
| DNF | Xuất phát nhưng không về đích |
| DNS | Đăng ký rồi nhưng không xuất phát |
| DOMS | Đau mỏi cơ xuất hiện một hai ngày sau buổi tập |
| DQ | Bị huỷ kết quả vì vi phạm thể lệ |
| Drill | Động tác kỹ thuật ngắn, lặp lại để sửa tư thế chạy |
| Drop | Gót giày cao hơn mũi bao nhiêu mi-li-mét |
| Easy run | Buổi chạy nhẹ, vừa chạy vừa nói chuyện được |
| Elev gain | Tổng độ cao leo lên, chỉ cộng đoạn lên dốc |
| Elevation | Độ cao so với mực nước biển |
| Elite | Nhóm chạy nhanh nhất giải, chuẩn do ban tổ chức đặt |
| Endorphin | Hormone tiết ra khi vận động, làm người dễ chịu hơn |
| Fartlek | Biến tốc tự do, nhanh chậm theo cảm hứng |
| Finisher | Người về đích hợp lệ, còn trong giờ đóng cổng |
| FKT | Thành tích nhanh nhất từng ghi nhận trên một tuyến đường |
| FM | Marathon đầy đủ, 42,195 km |
| Forefoot | Nửa trước bàn chân |
| Forefoot running | Tiếp đất bằng nửa trước bàn chân |
| GAP | Pace quy đổi về đường phẳng |
| Gel | Túi gel năng lượng, chủ yếu là đường hấp thụ nhanh |
| Gender rank | Thứ hạng tính riêng trong giới của bạn |
| Glycogen | Dạng tinh bột cơ thể trữ trong cơ và gan |
| Grade | Độ dốc tính theo phần trăm |
| Gun time | Thời gian tính từ lúc có hiệu lệnh xuất phát |
| Hill repeats | Chạy lên dốc rồi quay xuống, lặp nhiều lần |
| Hit the wall | Đụng tường, cạn glycogen ở km cuối marathon |
| HM | Bán marathon, 21,0975 km |
| HRmax | Nhịp tim tối đa của bạn |
| HRV | Biến thiên nhịp tim, so với mức thường ngày của bạn |
| Interval | Chuỗi đoạn nhanh xen đoạn nghỉ nhẹ |
| ITBS | Hội chứng dải chậu chày, đau mé ngoài gối |
| ITRA | Hiệp hội chạy trail quốc tế, chấm điểm độ khó giải trail |
| Jogging | Chạy chậm thư giãn, không đặt nặng thành tích |
| K | Viết tắt của km. "21K" là 21 km |
| Lactate threshold | Ngưỡng lactate, mức gắng sức giữ được khoảng một tiếng |
| Lap | Một vòng chạy hoặc một đoạn bạn bấm mốc trên đồng hồ |
| Last giày | Khuôn phôi làm giày, quyết định giày chật hay rộng |
| Long run | Buổi chạy dài nhất trong tuần |
| LSD | Buổi chạy dài và chậm |
| MAF | Ngưỡng nhịp tim hiếu khí tối đa, ước lượng bằng 180 trừ tuổi |
| Max elevation | Điểm cao nhất của đường chạy |
| Midfoot | Giữa bàn chân |
| Negative split | Chạy nửa sau nhanh hơn nửa đầu |
| Neutral | Bàn chân xoay vào trong vừa phải khi tiếp đất |
| Overall rank | Thứ hạng chung của toàn bộ cự ly |
| Overpronation | Bàn chân xoay vào trong quá nhiều khi tiếp đất |
| Overtraining | Tập quá tải kéo dài, pace tụt và người lúc nào cũng mệt |
| Pace | Số phút chạy hết 1 km, số càng nhỏ càng nhanh |
| Pacer | Người dẫn tốc, giữ đúng pace cho cả nhóm chạy theo |
| PB | Thành tích tốt nhất của bạn, cùng nghĩa PR |
| PR | Kỷ lục cá nhân trên một cự ly |
| Progressive run | Buổi chạy tăng pace dần từ đầu tới cuối |
| Pronation | Cách bàn chân xoay khi tiếp đất |
| Race | Cuộc thi chạy có ban tổ chức và kết quả chính thức |
| Race kit | Túi vật phẩm ban tổ chức phát trước giải |
| Race village | Khu trung tâm sự kiện, chỗ nhận kit và gửi đồ |
| Recovery run | Buổi chạy rất chậm ngay sau một buổi nặng |
| Repetition | Đoạn ngắn chạy nhanh, nhắm vào tốc độ và kỹ thuật |
| RICE | Tên viết tắt của cách sơ cứu hay được nhắc trong thể thao: nghỉ, chườm lạnh, băng ép, kê cao chân |
| RPE | Mức gắng sức tự cảm nhận, thang 1 tới 10 |
| Runner | Người chạy bộ, ở mọi trình độ |
| Sải chân | Độ dài mỗi bước chạy, tiếng Anh là stride length |
| Shin splints | Đau dọc mặt trong xương cẳng chân |
| Split | Thời gian của từng km hoặc từng chặng |
| SPM | Số bước mỗi phút, đơn vị của cadence |
| Stack height | Tổng độ dày đế giày dưới chân |
| Stamina | Sức bền. Trên đồng hồ, stamina ước lượng phần sức còn lại lúc đang chạy |
| Strides | Đoạn 20 tới 30 giây chạy nhanh nhẹ nhàng cuối buổi |
| Sub | Mốc về đích dưới một thời gian nhất định |
| Supination | Bàn chân đổ ra mé ngoài khi tiếp đất |
| Talk test | Thử nói một câu dài để xem có đang chạy quá sức không |
| Taper | Giai đoạn giảm khối lượng trước ngày đua |
| Tempo | Buổi chạy giữ pace hơi nặng liên tục, quanh ngưỡng lactate |
| Track | Đường chạy trong sân điền kinh, một vòng 400 m |
| Trail | Chạy đường mòn, băng rừng, lên xuống núi |
| Treadmill | Máy chạy bộ |
| Ultra | Cự ly dài hơn marathon, như 50 km, 70 km, 100 km |
| UTMB | Giải trail quanh dãy Mont Blanc, lớn nhất thế giới |
| Vest nước | Balo nhỏ đeo trước ngực mang nước và đồ ăn khi chạy trail |
| Viên muối | Viên điện giải bù muối mất qua mồ hôi |
| VO2max | Lượng oxy tối đa cơ thể dùng được trong một phút |
| Waiver | Bản cam kết tự chịu trách nhiệm sức khoẻ khi đăng ký giải |
| Warm-up | Khởi động trước buổi tập |
| Wave start | Xuất phát chia thành nhiều đợt |
| Wide | Bản giày rộng, cho người chân bè |
| Yasso 800 | Bài 800 m lặp lại, dùng ước lượng thành tích marathon |
| Zone | Vùng nhịp tim, chia từ zone 1 tới zone 5 |
Câu hỏi thường gặp về thuật ngữ chạy bộ
Sub 2 là pace bao nhiêu?
Sub 2 bán marathon cần pace trung bình nhanh hơn 5:41/km, giữ đều suốt 21,0975 km. Sub 2 ở cự ly marathon thì cần 2:50/km, mức của kỷ lục thế giới.
Sub 2 và sub 3 là gì?
Sub 2 là về đích bán marathon dưới 2 giờ. Sub 3 là về đích marathon dưới 3 giờ. Hai mốc này ở hai cự ly khác nhau, nên đừng xếp chúng thành một bậc thang liền nhau.
Sub 3 và sub 5 là gì?
Cả hai đều nói về marathon 42,195 km: sub 3 là dưới 3 giờ, sub 5 là dưới 5 giờ. Sub 5 cần pace 7:06/km, sub 3 cần 4:15/km.
Gender rank trong chạy bộ là gì?
Gender rank là thứ hạng của bạn tính riêng trong giới của mình. Một bạn nữ đứng hạng 200 ở bảng chung có thể là hạng 20 ở bảng nữ, vì bảng chung xếp lẫn nam nữ mọi lứa tuổi.
Elev gain là gì?
Elev gain, viết tắt của elevation gain và cũng ghi là D+, là tổng số mét bạn leo lên trong buổi chạy. Nó chỉ cộng các đoạn lên dốc, không trừ đoạn xuống dốc.
Người chạy bộ gọi là gì?
Trong cộng đồng thì gọi là runner, viết hai chữ n. Người chạy chậm thư giãn còn được gọi là jogger, nhưng cách gọi này ít dùng hơn.
Chạy bộ tiếng Anh là gì?
Chạy bộ nói chung là running. Chạy chậm thư giãn là jogging. Chạy bền là long-distance running.
COT trong chạy bộ là gì?
COT là cut-off time, giờ đóng cổng của giải. Về sau giờ này thì kết quả bị ghi DNF dù bạn đã chạy hết cự ly.
DIS trên máy chạy bộ là gì?
DIS là viết tắt của distance, tức quãng đường bạn đã chạy. Máy thường hiện kèm TIME cho thời gian và CAL cho calo.
Back to back là gì?
Back to back là hai buổi tập nặng đặt sát nhau, thường cách 12 tới 24 tiếng. Người tập cự ly siêu dài hay dùng cách này để quen với việc chạy trên đôi chân đã mỏi.
Biết từ rồi thì chọn đồ cho đúng
Hiểu mấy chữ này xong, bạn đọc giáo án và thể lệ giải không còn phải đoán. Việc còn lại là đồ dưới chân có vừa không, và đồng hồ có đo được những chỉ số bạn vừa đọc hay không.
Bạn ghé cửa hàng HappyRun ở Lô 21, 110 Dịch Vọng Hậu, Cầu Giấy, Hà Nội (tầng 2) để đo quét bàn chân 3D miễn phí. Ở xa thì nhắn Zalo, gửi chiều dài bàn chân cùng cự ly bạn đang chạy và mốc sub bạn đang nhắm, đội tư vấn sẽ kiểm mẫu phù hợp và tình trạng hàng thực tế rồi báo lại.
Nhắn Zalo HappyRun để được tư vấn
Nguồn tham khảo
- World Athletics, "Sawe breaks two-hour barrier", bản tin ngày 26/04/2026, truy cập 09/10/2026: worldathletics.org
- Buist I. và cộng sự, "No effect of a graded training program on the number of running-related injuries in novice runners: a randomized controlled trial", The American Journal of Sports Medicine, 2008 (532 người mới chạy, chấn thương 20,8% so với 20,3%): research.rug.nl